XỬ LÝ NƯỚC THẢI ĐÁ MỸ NGHỆ


Nghề đá mỹ nghệ đã có từ bao đời nay, không chỉ thể hiện được sự tài ba từ bàn tay, khối óc con người Việt Nam mà hoạt động sản xuất đá mỹ nghệ đã tạo ra sản phẩm đặc trưng có nghệ thuật cao. Tuy nhiên, từ quy trình sản xuất, điêu khắc các loại sản phẩm đã phát sinh tiếng ồn, bụi, đặc biệt là tình trạng  nước thải làm ô nhiễm nước ngầm do sử dụng acid HCL đậm đặc (hay pha loãng, nóng) trong qúa trình mài, làm bóng sản phẩm…
Phần lớn lượng nước thải từ khu vực sản xuất đều cho tự chảy tràn lan trên mặt đất hoặc có cơ sở thu gom về hố thu nhưng cũng không qua bất kỳ biện pháp xử lý nào gây hại đến sức khỏe cộng đồng và môi trường trong khu vực. Nguyên nhân của việc này có thể vì nhà sản xuất chưa hiểu được mức độ nguy hại từ các chất ô nhiễm có trong nước thải. Hoặc do chi phí xử lý lượng nước thải này khá cao gây ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm.
Vì những lý do trên, công ty chúng tôi xin đưa ra công nghệ xử lý tiết kiệm chi phí, nhưng vẫn đảm bảo chất lượng nước thải sau xử lý theo quy định hiện hành của nhà nước.

I.    THÀNH PHẦN VÀ TÍNH CHẤT CỦA NƯỚC THẢI

1.1.    Nguồn gốc phát sinh nước thải
Các nguồn phát sinh nước thải:
-    Quá trình sản xuất: nước thải ra khá lớn từ các khâu như cưa, mài, cắt, đánh bóng, chứa chủ yếu cặn bột đá và lượng axit dư từ việc đánh bóng bề mặt sản phẩm…
-    Nước thải sinh hoạt: phát sinh chủ yếu từ nhà vệ sinh và bếp ăn. Nước thải sinh hoạt có các chất hữu cơ, vi khuẩn… gây ô nhiễm với nồng độ thấp phù hợp với biện pháp xử lý sinh học.
Khảo sát các nguồn thải nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm, từ đó đưa ra phương pháp xử lý tối ưu nhằm giảm chi phí đầu tư. Vì lượng nước thải sinh hoạt không đáng kể nên nếu cơ sở sản xuất có cả hai nguồn này ta vẫn xử lý theo phương pháp hóa lý.
1.2.    Thành phần và tính chất nước thải
Chất ô nhiễm     Đơn vị       Đầu vào      QCVN 24:2009 (cột A)
pH              -      4.5 – 7.5        6 – 9
TSS             mg/l      800-1200         50
COD             mg/l       60-100         50

II.    QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ



III.    THUYẾT MINH QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ

Các nguồn phát sinh nước thải tại khu vực sản xuất được thu gom bằng hệ thống mương thu nước. Phía trước bể gom chúng tôi đặt song chắn rác để loại bỏ các tạp chất có kích thước lớn trong nước thải. Phía sau bể gom là lưới rác tinh để lược bỏ các tạp chất có kích thước nhỏ. Nước thải từ bể gom được bơm qua bể lắng cát để tách một phần cặn có kích thước lớn (cát, đá vụn). Nước thải tiếp tục được đưa sang bể điều hòa nhằm ổn định lưu lượng và nồng độ. Tại bể điều hòa, chúng tôi bố trí máy khuấy trộn chìm nhằm mục đích hòa trộn đồng đều nước thải trên toàn diện tích bể, ngăn ngừa hiện tượng lắng cặn ở bể, sinh ra mùi khó chịu.
Bột đá có tính kiềm nên một phần sẽ tự trung hòa với nước thải rửa có tính axit, mặt khác nước thải còn được tiếp tục trung hòa tại bể trung hòa (bằng đá hồng, đá trắng). Nước thải tiếp tục chảy từ bể trung hòa xuống bể keo tụ kết hợp quá trình lắng, đồng thời dùng bơm định lượng châm chất keo tư vào hòa trộn với nước thải để tạo ra các bông cặn. Ở đây các chất màu và cặn lơ lửng bị kết tủa lại còn nước thải nước thải chảy qua bể khử trùng, để khử trùng các vi khuẩn có hại trong nước thải. Sau đó, nước thải chảy qua cột lọc áp lực, để giữ lại cặn lơ lửng và khử cả lượng màu, mùi trong nước thải.
Nước thải sau khi qua cột lọc áp lực đạt tiêu chuẩn theo quy định hiện hành của nhà nước được xả ra nguồn tiếp nhận .
Bùn cặn từ các bể được đưa vào bể chứa bùn, làm giảm lượng nước chứa trong bùn. Sau đó, được cơ quan chức năng xử lý theo định kỳ.